Thứ Tư, tháng 9 28, 2011

Con đi học tròn một tháng

Hôm nay là 27 tháng 9 năm 2011, tròn một tháng con trai lớn đi học trường Ngoại Thương thành phố Hồ Chí Minh.
Khi con ở nhà, hay bị ba la vì bừa bãi lộn xộn. Bây giờ, vào ở trọ, cũng đã có tiến bộ hơn. Nhưng tất cả mới chỉ là khởi đầu, còn rất nhiều việc phải lo trong tương lai. Con được vào lớp Cử nhân Chất lượng cao, nghe giảng bằng tiếng Anh, mai mốt có điều kiện hơn trong công việc, giao tiếp.
Mới vào Sài Gòn, con đã đi khắp nơi để cho biết đường, thể hiện được tính năng động, thích nghi nhanh. Nhưng cần phải cảnh giác hơn với những trò lừa tinh quái của dân giang hồ. Tính con hồn nhiên, dễ bắt chuyện, đã bị gặp ngay đám cò mồi dụ dỗ làm trai bao!!! Nghe con kể lại, với giọng sửng sốt, mình chỉ cười và lo con sẽ còn gặp nhiều chiêu thức tinh vi hơn. Mình biết tính con, nên khoản này có thể yên tâm.
Trong đó, con thỉnh thoảng tới thăm bà con. Có lẽ giờ này ăn cơm bụi hoài, cu con cũng ngán nên thèm không khí gia đình. Giống mình ngày xưa, nhào vào nội trú để rèn luyện tính tự lập, cuối tuần lại mò về nhà ăn cơm mẹ nấu. Chỉ có điều cu con học xa, thiệt thòi hơn, chỉ về vào dịp hè, dịp Tết.
Môi trường Đại học sẽ giúp con trưởng thành hơn, đúng với lứa tuổi của mình. Mong con mau tiến bộ và càng chững chạc hơn.

Thứ Năm, tháng 7 21, 2011

Con có kết quả thi Đại học

Tối nay cuối cùng cũng có kết quả thi đại học ngoại thương của con. 21,75 làm tròn thành 22 điểm, chưa tính điểm thưởng và điểm khu vực. Biểu điểm này mấp mé, nhưng hy vọng theo thông báo điểm năm nay của Ngoại Thương cơ sở phía Nam thấp hơn thì hy vọng con đậu.
Vui nhưng vẫn tiếc vì những chữ nếu...
Mà thôi cũng chẳng lăn tăn làm gì những chuyện đã qua. Bây giờ là phải lo chuyện sắp tới con đi học như thế nào. Con đi học, bố mẹ thì lo làm nhà. Nhìn chung chồng chất những thử thách. Chẳng sao, bây giờ dẫu sao cũng sướng hơn cái thời khốn khổ khốn nạn ngày trước. Mẹ đã lo được cho mình học hành thành người, phải vất vả bao nhiêu. Chả lẽ mình không noi theo để chăm cho con khôn lớn?
Chỉ lo một điều với tính ương bướng gàn dở củ cu con, khó có sự suôn sẻ thuận lợi trong quá trình học. Môi trường đại học là sự cạnh tranh khốc liệt vô cùng, và tất nhiên hy vọng con mình sẽ trưởng thành! Cũng mong tâm lý con vững vàng hơn để tránh khỏi những sai sót đáng tiếc.
Cũng còn lo, kiến thức sống, kiến thức văn hóa ứng xử của con còn mỏng quá, cứ thẳng băng theo ý mình thì khó mà mềm mỏng linh hoạt trong bất cứ công việc gì. Tính đó sẽ ảnh hưởng cả những dự định, những tính toán của con, làm nghèo ý tưởng sáng tạo trong cuôc sống.
Chỉ mong con càng lớn càng khôn ra, còn như tình trạng hiện tại thì chỉ biết phán với tư cách một ông cha: Dại lắm! Khờ lắm!

Thứ Tư, tháng 3 02, 2011

Mama...!

Còn hơn một tháng nữa lại đến giỗ Mẹ ...Bây giờ là tháng Ba - tháng có Ngày Quốc tế Phụ nữ!
Lần giở những trang viết cũ trên blog, con chợt nghe lại bài hát Mama qua giọng ca của Robertino Loretti - bài hát con đã nhẩm theo bằng tiếng Việt bao nhiêu lần những ngày chăm Mẹ bên giường bệnh: "Tim con rung lên khi nghe tiếng Mẹ...", con hát trong nước mắt chảy lặng lẽ, còn Mẹ thì bằn bặt, thiêm thiếp... Câu hát ấy bây giờ lại vang lên. Mẹ ơi! Con nhớ Mẹ!


Con biết và tin một điều: Người mà ta yêu thương sẽ không bao giờ mất đi, nếu trong tim ta luôn ngập tràn hình bóng người đã khuất! Vâng, con tin Mẹ vẫn lặng lẽ và hiền dịu dõi theo từng bước đường đời của con, dù con bây giờ đã sắp sang tuổi bốn mươi ba và sau này dù con có da mồi tóc bạc thì Mẹ kính yêu vẫn luôn là hình ảnh đẹp nhất cuộc đời con!
Nỗi buồn rồi lắng lại, qua đi! Nhưng những ân tình Mẹ dành cho con đã thành kỉ vật vô giá. Đôi khi ăn một món trong bữa cơm gia đình, chợt bâng khuâng: món này ngày xưa Mẹ nấu ngon lắm! Đôi khi phụ bếp, vợ con lại nhắc: món này ngày xưa Mẹ bày em làm! Lên lớp giảng bài, gặp tác phẩm nào có những câu những ý viết về người mẹ, con lại lặng người một lát và nói cho học trò bằng nguyên vẹn niềm xúc động của lòng con nhớ về Mẹ!
Thời gian rồi sẽ lặng lẽ trôi đi, nhưng Mẹ ơi, có khi nào thời gian có thể xóa nhòa hình bóng Mẹ trong tim con? Hàng năm, Cha đều nhớ sinh nhật của chúng con và các cháu, và thường tặng những cuốn sách nho nhỏ. Trong những cuốn sách của Cha, con cảm nhận được điều Cha mong mỏi: những cuốn cẩm nang cho những bậc làm Cha Mẹ, những sách Hạt giống tâm hồn...Chúng con hiểu Cha như muốn gánh phần của Mẹ, tiếp tục khuyên răn chúng con và các cháu về tình cảm gia đình, uốn nắn giáo dục con cháu... Ngày xưa, Mẹ có bao giờ phải nặng lời mắng mỏ mà luôn nhẹ nhàng nhắc nhở, thậm chí bênh con bênh cháu, là chỗ dựa là tất cả tình yêu thương mà chúng con luôn có cảm giác được dìu dắt nâng đỡ! Mẹ coi dâu như con gái trong nhà, mẹ là Bà Nội tuyệt vời trong tâm khảm những đứa con bé bỏng dại khờ của chúng con! Con đã được đọc những dòng con trai con viết về Bà Nội mà trào nước mắt vì nhớ Mẹ, cảm động vì những đứa con của con học được ở Bà Nội tình yêu thương, biết trân trọng những giá trị cuộc sống. 
Mẹ ơi, ngày xưa Mẹ thích hát và Mẹ cũng thích nghe con hát, dù có khi con chỉ hát những lời vớ vẩn ghẹo cho Mẹ cười! Con chợt bàng hoàng nhận ra trong những bài con hát Mẹ nghe, chưa bao giờ con hát trọn vẹn một bài về Mẹ. Khi con hát Bông hồng cài áo, hát Mama bên giường bệnh thì Mẹ đã nằm mê man...nhưng con vẫn tin và mong Mẹ nghe được những lời con hát! Như ngày xưa khi còn đi học, con tập thổi sáo bài Lòng Mẹ của Y Vân, dẫu nốt lạc sai vấp lên vấp xuống, Mẹ đã nhìn con trìu mến biết bao nhiêu
Mẹ ơi! Bây giờ con lại hát cho Mẹ nghe nhé: Ôi Mẹ, cả cuộc đời con chỉ ôm ấp hình bóng Mẹ! Ôi Mẹ! Thật tuyệt vời và bao hạnh phúc ở bên Mẹ! Con ca lên khúc ca ân tình, bao nhiêu xa cách nay xa rồi! Con nâng niu ôm lấy cánh tay Mẹ yêu, rung trong tim con Mẹ mến yêu... Mẹ ơi, con thèm được nâng cánh tay gầy guộc khẳng khiu mà mát rượi của Mẹ, khẽ áp vào khuôn mặt, để được hôn lên đôi bàn tay đã nâng niu chăm bẵm cho chúng con khôn lớn, để cảm nhận tình Mẹ bao la biết bao!

Chủ Nhật, tháng 1 30, 2011

Thứ Năm, tháng 1 20, 2011

Một lần chợt nghe quê quán tôi xưa...

Những ngày cuối năm âm lịch, không có quá nhiều việc để làm ngoài những việc lặt vặt tủn mủn: mai in giáo án, coi lại một mớ sổ sách chuẩn bị cho sếp kiểm tra, liên hoan tổng kết tại trung tâm, liên hoan mừng tập thơ VNT ra mắt, liên hoan xóm, tất niên trường... Cuộc đời cứ đuổi theo những cái linh tinh vụn vặt ấy cũng đủ mệt. Tháng trước thì chóng mặt với đám cưới, đám hỏi, đám chết. Vèo vèo rồi thời gian trôi đi... chả mấy chốc mà tuổi già sầm sập đến mau!
Chợt thèm một chút bình yên quê nhà, một khoảnh khắc thong thả đọc vài bài thơ hay, nhấp ngụm trà, đủng đỉnh khai bút cho nguồn văn tiếp tục thăng hoa. Bây giờ không còn quá trẻ và cũng chưa quá già để nghĩ đến hai chữ "bon chen". Danh - Lợi - Quyền luôn là cái bả phù hoa hấp dẫn nhưng nếm thử thì mới thấy đắng nghét.
Thèm chút yên bình như người bạn văn quý: Cầm cần gã chẳng câu chi - Dăm con cá lẻ nhâm nhi tháng ngày... Vui cho anh bạn sau bao bầm giập thị phi cuối cùng cũng tự khẳng định được chính mình sau chuỗi ngày ê chề! Cái Danh ấy vào thời điểm ấy mới đáng quí làm sao, vì nó là minh chứng cho Đời - dẫu sao cũng công bằng! Nhưng rồi cái danh ấy cũng chẳng đem thêm chút lợi nào, bạn mình hắn vẫn cứ thế: cầm cần gã chẳng câu chi...
Còn mình?
Cũng đã nhận ra con đường của mình khá rõ nét, tuy có chút khó chịu vì phải làm những việc con con, nhưng thà thế còn hơn phải ồn ào, phải hể hả, phải xun xoe quỵ lụy vì một tham vọng nào đấy! Dạo này hay đọc Kinh Dịch, đủ thứ liên quan nào là Liên Hoa độn pháp, Bát quái, Âm dương...cũng nhức đầu! Có lẽ mình không đủ kiên nhẫn như một học giả đào sâu tận cùng kiến thức mà cứ như gã rong chơi, nắm vấn đề đại thể rồi nghiệm một chút cho riêng mình. Thế là đủ. Có lẽ cuộc sống cũng chẳng cần phức tạp quá!
Chợt thèm về quê Mẹ, quẩn quanh bên chị để làm thằng em út, vòi bác làm cho em món bún chả. Lâu ngày thèm bún chả, nhớ cái vị chua ngọt của nước chấm quyện lẫn với thịt nướng, rau ghém thơm lừng! Cuộc sống khi nào hết lo toan, hết bận bịu những chuyện vặt vãnh?


Cuối năm, nhìn trong nhà còn ngổn ngang đủ thứ lặt vặt. Cũng phải sắp xếp từ từ: lau chùi đồ đạc, sắp xếp sách vở, sửa cái quạt hư, chuẩn bị vài chậu hoa...có lẽ thế cũng vui. Và mong ngày xuân nhà mình đầy ắp tiếng cười, hy vọng con trai lớn thêm một tuổi sẽ chững chạc hơn, còn thằng cu em thì cứ thỉnh thoảng pha trò hài cho ba mẹ cười ngắt nghẻo, vậy là vui rồi! Chưa lo được cái gì lớn, thì bắt đầu từ những chuyện nho nhỏ...

Chủ Nhật, tháng 8 29, 2010

Kỉ niệm về người bác đáng kính

Tôi theo Cha từ Hà Đông về quê Phước Thành năm 1976.
Trong kí ức về tuổi thơ, tôi ấn tượng nhất khi được gặp bác Tám, anh họ của Cha. Bác là con của Ông Nghè, anh ruột Ông Nội tôi. Ở xóm Vân Tập, nhà bác cách nhà tôi ba căn, cứ mỗi lần về quê thể nào tôi cũng lên thăm bác. Sở dĩ tôi thích được lên nhà bác chơi vì lúc nào gặp bác cũng được bác kêu ra võng, ngồi lên bụng bác! Ngày đó, nhìn tướng bác phúc hậu như ông Địa, còn tôi bé tí như cái kẹo, ấy vậy mà khi bác bắt ngồi lên bụng, vẫn cứ lo lo mình ngồi bể bụng bác. Điều thứ hai là nhà bác có các anh chị rất vui vẻ và chiều em, sẵn sàng cho em mượn sách truyện để đọc. Cho nên khi về quê, chỉ khoảng 5 phút là tôi nhót lên nhà bác và nhà bác Năm tìm truyện đọc ngốn ngấu hoặc vui đùa với các anh chị, lang thang đi hái chim chim, dú dẻ khắp xóm. Sau này lại càng thích khi bác lập đoàn tuồng đồng ấu, tập ngay tại nhà lẫm. Tôi lâu lâu mới về, chỉ đứng nhìn các anh chị và những đứa nhỏ hát i uông, đóng bộ mà thích mê và nhập tâm. Về quê trúng dịp diễn hát bội là nhót đi xem diễn viên vẽ mặt, đeo râu, nghe tiếng trống hát bội mà chân cứ bồn chồn...
Khi lớn hơn, có đôi chút hiểu biết, tôi mới được nghe kể về bác và được biết bác là người giỏi tiếng Pháp, từng làm giám học Bồ Đề Nguyên Thiều. Đi lên chùa Thập Tháp, An Nhơn, tôi rất hãnh diễn khi thấy đề tên ghi công đức đóng góp của Giáo sư Trần Bùi Thao. Khi bắt đầu có ý thức tìm hiểu về dòng tộc, tôi cảm thấy hãnh diện khi dòng tộc tôi có ông Nghè - tú tài Trần Trọng Giải và ông Nội tôi - cử nhân Trần Đình Tân là hai anh em ruột "huynh đệ đồng khoa", là những nhân vật có tiếng tăm trong Nho lâm Bình Định. Tôi mới hiểu tình cảm thân thiết và sự kính trọng mà Cha tôi luôn dành cho vị huynh trưởng có truyền thống sâu xa từ thế hệ của Tổ phụ. Đến thế hệ chúng tôi, các anh chị con bác cũng rất chăm chút cho con chú. Tôi học khá Toán hơn và biết làm thơ luật bài bản là do được các anh con bác như anh Ân, anh Khương kèm cặp, mặc dù các anh đều là dân chuyên Tự nhiên. Bác tôi có cách giáo dục con cái ý thức gia đình bền chặt, khi hàng năm dù ở đâu con cái cũng quây quần về quê trong mấy ngày Tết. Cả nhà bác luôn nhộn nhịp những trò vui tam cúc, tài bàn rộn tiếng cười, không hề có chuyện cay cú sát phạt. Từ nếp nhà luôn bền chặt, các anh chị con bác đều trưởng thành, học rất giỏi. Một điều may mắn, dù có đôi chút khó khăn về lý lịch nhưng sau này các anh đều được đi học lên cao, có anh đang làm tiến sĩ, có anh đậu thạc sĩ, tất cả các anh chị đều nối tiếp xứng đáng truyền thống con cháu ông Nghè.
Bác tôi làm Chánh chủ tự Trần tộc đại tôn từ đường trong nhiều năm, mỗi khi Tế hiệp, các chi phái Mỹ Á, Phú Hiệp ra dự với Mạnh phái Cảnh Vân đều kính trọng bậc tôn trưởng luôn quan tâm lo lắng cho sự phát triển dòng tộc, ân cần động viên con cháu nối tiếp xứng đáng truyền thống cha ông. Mấy năm gần đây, khi sức khoẻ không cho phép, bác về nghỉ ở Quy Nhơn, để người em là bác Thừa Nghê cáng đáng nhưng bác vẫn đau đáu nỗi niềm với ông bà tổ tiên.
Tết vừa rồi, khi chở cha tôi đi thăm bác, tôi không ngờ đó cũng là lần cuối cùng được trò chuyện cùng bác. Nhìn cảnh hai anh em đều trên 80 tuổi, người nào cũng bị bệnh tật hành hạ, hàn huyên động viên nhau mà cảm động vô ngần.Đó cũng là lần đầu tiên tôi thấy hai ông cụ cùng khóc. Nước mắt người già thật lạ, và cũng như một dự cảm về lần gặp được nhau ấy cũng là tử biệt sinh ly...

Nghe tin bác mất, biết là khó cưỡng luật trời khi tuổi bác đã sang 87. Nhưng vẫn cảm thấy lòng dâng lên cảm giác thật lạ. Buổi sáng hối hả báo tin cho bà con ở xa nhờ vào Facebook và Yahoo, buổi trưa dạy xong tôi mới ghé vào nhìn mặt bác lần cuối. Nghe các anh chị kể, bác ra đi thật nhẹ nhàng và thanh thản. Buổi tối hôm trước, bác còn đọc sách cả đêm không ngủ, mời bác gái ngồi cạnh giường nói chuyện cho vui, sáng ra 4 giờ đòi đi tắm. rồi  chỉ nửa tiếng sau mệt trong người, nằm xuống là đi luôn. Nhìn bác nằm thật bình an, như giũ bỏ những phiền muộn nhân sinh để nhẹ nhàng vào cõi bất tử...
Sáng mai, bác tôi sẽ được đưa về Cảnh Vân, nằm trong khuôn viên chùa Hương Sơn, trong một không gian thanh tĩnh. Bác sẽ lại gặp ông Nghè, ông Nội tôi và các anh em người thân mình ở đó. Đó là nơi hội tụ những tinh hoa dòng họ, để con cháu luôn kính ngưỡng. Xin nguyện cầu cho hương linh bác tịnh độ siêu sinh!
Nhớ về bác, con lại ước sao trở lại thời thơ ấu, để lại được bác nheo mắt cười cười, vẫy thằng bé nhong nhong trên bụng bác...Bác thương thằng cháu nên khi nó lấy vợ cũng không quản ngại tuổi cao, đường xa, lặn lội đi hỏi vợ, cưới vợ cho cháu mãi ở Ninh Hoà, đi về 400km mấy lượt. Nên nay khi cả nhà đến viếng bác, con đã dắt cả hai thằng con đến để được lạy Ông...
Vĩnh biệt bác, giáo sư Trần Bùi Thao, người bác tôi luôn kính ngưỡng!

Thứ Tư, tháng 2 24, 2010

Gia đình năm Canh Dần

Hình ảnh chụp kỉ niệm năm Canh Dần 2010! Thấy mình hơi già! Hic!
 
Cả nhà

 
Hình đứng

 
Hai con Uy - Lương

Thứ Sáu, tháng 1 22, 2010

Nỗi niềm văn chương!

Có những khi sự thật khiến ta choáng váng vì không ngờ lại xảy ra ở chỗ ta ít ngờ nhất!
Tôi đã gặp phải trường hợp như vậy sau khỏang thời gian hơn 15 năm đi dạy. Lần đầu tiên.
Biết rằng học trò nhỏ dại, nhưng cảm thấy những lời học trò dành cho mình vẫn tạo nên một tổn thương tinh thần ghê gớm. Dù chuyện chẳng đáng gì, nhưng cho thấy có những học sinh tôn cái tôi của mình lên quá cao để phá vỡ những nguyên tắc thiêng liêng, những mối quan hệ chuẩn mực xã hội lâu nay...
Hay có một chuẩn mực mới cho phép học trò coi thầy cô bằng vai phải lứa để nói lên những lời thiếu suy nghĩ. Không biết rồi một lúc nào, khi lớn lên thì trò có dịp nào nhớ lại những lời đã viết cho thầy hay không! Trò rất thông minh, biết dùng THƯ NẶC DANH, để giấu mặt. Nhưng dùng trí thông minh để cho phép làm tổn thương thầy thì quả thật trò đã làm thầy tổn thương thật sự rồi đó!
Dẫu sao, cũng phải nhủ lòng: CẦN BIẾT THA THỨ!
Dường như trò quên mất thầy là người DẠY VĂN, còn trò đang HỌC VĂN.
Nhớ, không phải dạy và học MÔN VĂN mà VĂN phải thể hiện trong cuộc sống, trong giao tiếp ứng xử, trong suy nghĩ và hành động.
Mong một ngày trò hiểu rõ chữ VĂN!

Thứ Tư, tháng 1 06, 2010

Suy ngẫm về nghị luận xã hội

Bảng phân công dạy đội dự tuyển quốc gia về nghị luận xã hội, các vấn đề về lý tưởng, bản lĩnh, trách nhiệm... toàn là những vấn đề to tát! Trình bày theo khuôn mẫu thì quá đơn giản, còn phá cách tự do quá thì lại e sai...phương pháp.
Nghị luận xã hội xét cho cùng là luyện cho học sinh kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp xã hội, nhận thức và tình cảm...và không có khuôn mẫu nào cả. Xét cho cùng, chuẩn mực đời sống cần phải hướng tới chính là làm thế nào nhận ra được cái CHÂN - THIỆN - MĨ của cuộc đời này. Ở tuổi học sinh, chính là quá trình định hướng nhận thức, hành vi, đôi khi giống như việc chăm chút một cây con: anh để nó mọc thẳng tự nhiên hay cần phải uốn cong theo những hình thù cầu kỳ, các thế vặn vẹo được đặt các tên mĩ miều: thế thác đổ, thế rồng bay... nào đó!
Đi tìm bản chất cuộc đời, cần phải nhìn toàn diện cả bề mặt, cả bên trong, cả nước sơn và gỗ. Rồi lại phải xem xét các mối quan hệ phức tạp chồng chéo, để bày tỏ tháiđộ cách đánh giá đúng sai thật giả tốt xấu. Rồi lại phải đi tìm những tấm gương, những dẫn chứng minh hoạ cho lý lẽ. Nhưng liệu có quá sức không khi biến các em thành những kẻ lập ngôn quá sớm. Lập ngôn chưa thông thì phải làm một bộ máy ghi âm và phát lại những gì bậc cha chú vạch ra? Và liệu rằng có tránh khỏi tình trạng cả vú lấp miệng em, áp đặt khiên cưỡng những tình cảm, những suy nghĩ mà các em chưa hề ý thức một cách sâu sắc về nó?
Nghị luận xã hội để giúp các em sống sâu sắc với đời hơn, nhưng liệu thầy cô đã thật sự là người sâu sắc, những điều thầy cô nói ra phải chăng cũng xuất phát từ một chuẩn mực và nhất là niềm tin chân thành để khẳng định chân lý!
Đơn giản là một vấn đề lý tưởng, hoài bão. Ai mà chẳng có một lý tưởng hoài bão, nhưng đích đến của mỗi người thì không hoàn toàn giống nhau. Có người đặt lý tưởng ở cuộc sống vật chất, tiện nghi; có người lại đặt lý tưởng vào những ý niệm siêu hình to tát, một giá trị tinh thần như tôn giáo, đạo đức; có người lại muốn dung hoà cả hai phương diện ấy? Xác định lý tưởng như thế nào cho đúng đắn, phù hợp, trong bối cảnh xã hội phức tạp hiện nay quả là điều không đơn giản. Bảo rằng chạy theo đồng tiền là sai, nhưng khát vọng về một cuộc sống lý tưởng là sự giàu sang thì chẳng phải là mục tiêu ta đang phấn đấu đó hay sao (dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh), vậy lối sống có tính thực dụng cần phê phán ở điểm nào? Hay một định hướng lý tưởng khác, coi trọng tình cảm, đề cao giá trị tinh thần, những giá trị tốt đẹp trong một xã hội đầy rẫy những cái xấu cái ác thì liệu lý tưởng ấy có trở thành viển vông. Hai phương diện tồn tại xã hội và ý thức xã hội có mối quan hệ như thế nào đến việc xác định lý tưởng sống của con người? Vận dụng triết học vào để lý giải các vấn đề của nghị luận xã hội thì có thể gỡ rối cho các câu hỏi trên, nhưng liệu có quá sức với trình độ nhận thức của học sinh phổ thông?
Xem ra các vấn đề như thế tưởng đơn giản mà lại vô cùng nan giải, vì nếu không khéo lại biến học sinh thành những con vẹt, thành máy ghi âm, đài phát vô hồn. Điều cần nhất là tính thuyết phục của văn nghị luận xã hội, trước hết phải xuất phát từ niềm tin đầy đủ của chính người viết. Người dạy và người học cũng phải có những tiêu chí thống nhất, đồng thuận cao. Có như vậy mới thực sự không biến bài nghị luận xã hội thành một bài rao giảng đạo đức khô khan.

Thứ Năm, tháng 12 31, 2009

Bỗng dưng mà buồn...

Ngày cuối cùng năm cũ, bỗng dưng mà buồn!
Vợ và con trai nhỏ đã về ngoại chơi, thằng lớn thì đi chơi với bạn. Lâu lắm rồi mới lại có cảm giác một mình!
Ngẫm...
Đáng buồn là khi sang năm mới, cây mai tứ quí mọi khi vẫn sum suê chẳng hiểu sao lại ngả lá vàng úa một loạt! Điềm không hay cho lớp Chuyên Văn chăng? Vì mấy năm nay dường như chưa bao giờ cây mai này báo sai kết quả học sinh giỏi, thành tích học tập của học trò? Mỗi khi có chuyện vui, hoa lại nở, bây giờ cây héo, vì đâu?
Bỗng dưng mà buồn vì tình cảm học trò ở lớp ghép Văn - Anh dành cho thầy giáo chẳng có chút gì giống với bất cứ lớp nào mình đã từng chủ nhiệm. Ngay cả những lớp mình chỉ chủ nhiệm hơn nửa năm cũng không có tình trạng đóng băng quan hệ thầy trò như thế! Các em còn nhỏ quá chăng? Hay cách nghĩ, cách sống của trò bây giờ cũng khác? Và mình cũng đã già! Sự khác biệt thế hệ, người già hơn cũng khó chịu hơn, cũng ít có thời gian chăm chút đều cho đám nhỏ hơn...
Đành vậy!
Ngày cuối năm, bỗng dưng mà buồn! ? "Ngồi một mình mãi thế này có lẽ buồn đến khóc được mất...", hơ hơ, đúng là tâm trạng Chí Phèo rồi! Thế thì đi chơi thôi! Thế giới online này cũng mỏi mệt lắm!

Thứ Hai, tháng 12 21, 2009

Nỗi lòng nhà giáo

Chuyện về nhà giáo lâu nay rộ lên toàn những thông tin buồn, rồi dư luận xã hội lên án thầy giáo này, cô giáo nọ. Nhưng có ở trong cuộc thì may ra mới thấu làm thầy cô giáo trong thời buổi này cực lắm thay! Mà các nhà giáo đích thực thường vốn hiền lành, cũng chỉ biết than thở với nhau và tự an ủi: thôi đành, đã mang lấy nghiệp vào thân… Chuyện buồn nhiều tập, biết đâu kể đó, cho mọi người hiểu thầy cô
1. Chuyện thứ nhất:
            Một bà mẹ có con đang học lớp 8  trường N. tình cờ đã kể cho tôi nghe câu chuyện bà được chứng kiến nhãn tiền: bà nghe con than cô giáo nghiêm lắm, nên tìm đến cô để hỏi han chuyện học hành của con. Đến trường, vừa gặp cô, chưa kịp nói gì thì thấy một ông tóc tai dài thượt, mặt mày đỏ gay, cầm theo một cây mã tấu sáng loáng, hùng hổ xông vào trường, réo tên cô giáo của con bà ra chửi: Con nào không cho con tao vào lớp? Ngon ra đây!... Ồn ào một hồi, cô giáo tái mét mặt, lo tránh vào phòng hội đồng. Bảo vệ không dám ra mặt, hiệu trưởng phải gọi công an tới nhờ can thiệp. Chuyện sau được phân giải rõ ràng, mới hay:  ông con quí tử của vị nọ khai giảng 2 tuần không đến lớp, tuần thứ ba mới lững thững bước vào. Tất nhiên là cô giáo nổi giận, yêu cầu gặp phụ huynh, thằng con biến mất 3 ngày, rồi sau đó ông bố hùng hổ tìm cô giáo định…xin tí huyết! Cô giáo mà hiền lành nhát sợ thì chả hiểu ông con trời kia sẽ quậy đến đâu?
2. Chuyện thứ hai:
            Bà chị họ đang là giáo viên trường THCS Ng. lên nhà, gặp trúng chú em đồng nghiệp bèn than thở: không biết chú dạy cấp 3 thế nào, còn cấp 2 bây giờ loạn lắm!
Chị dạy ở trường bán công, học trò toàn là thành phần phức tạp. Trường vừa qua đợt thanh tra, bà chị bị than phiền: sao sổ điểm nhiều con zê-rô thế này, chứng tỏ trình độ năng lực cô kém, không giáo dục được học sinh! Thanh tra gì mà toàn chú ý hình thức, phải chia mấy cột, mấy hàng, thậm chí còn bắt ne bắt nẹt dặn dò phải nói đúng bài bản, rập khuôn! Bà chị ấm ức: hừm, mấy ổng giỏi thì đứng lớp mà giảng cho học sinh tui! Học trò bỏ học, tui phải đến từng nhà năn nỉ đi học lại, nó học yếu, phản ánh với phụ huynh thì họ tỉnh bơ: tại tui muốn con tui nghỉ, cô cho nó đi học thì cô ráng chịu chớ! Rồi lớp chị năm rồi cho học trò thi lại, lưu ban nhiều cũng bị phê bình: dạy sao mà lưu ban nhiều! Hiệu trưởng muốn cho lên lớp, tui cho lên cái rẹt, nhưng ai chịu chất lượng đây? Cho ở lại cũng la, cho lên lớp cũng la, khổ thân tui phải dạy cái trường học trò ham chơi hơn ham học. Nó có thiết tha gì! Có đứa mới lớp 6, bỏ học gia đình không quan tâm, bán cái cho nhà trường, thằng nhỏ đi tuốt theo lũ bụi đời, trấn cướp bị bắt, công an báo về, gia đình mới tưng hửng: ủa, sáng nào nó cũng cầm vở đi mà!
3. Chuyện thứ ba:
            Hàng năm, các trường THPT tiếp nhận một khối lượng lớn học sinh THCS vào, tui cũng như nhiều giáo viên trẻ phấn khởi: hồ sơ học bạ toàn là học sinh giỏi, học sinh tiên tiến! Điểm số các môn “cao ngất Trường Sơn”. Nhưng than ôi, chỉ một tháng sau, qua các bài kiểm tra mới thấy bàng hoàng khi điểm số học trò hành quân 1,2,3… Có đến quá nửa lớp! Có nhiều trò viết sai chính tả đến kinh hoàng! Còn chữ viết thì…than ôi khỏi nói. Trước kia dạy trường bình thường, ngỡ đến khi sang trường chuyên đỡ hơn! Nhưng học trò chuyên phần nhiều chỉ giỏi môn chuyên, kiến thức có khá hơn nhưng chính tả, chữ viết thì giống y như học trò nơi khác! Nên năm nào cũng mất công củng cố kiến thức nền, bổ sung thêm kiến thức văn hoá – xã hội - lịch sử mới tạm tạm. Trong lòng cứ băn khoăn: bây giờ sách vở nhiều, phương tiện lắm, chính sách giáo dục nghiêm, chương trình cải cách liên tục, tại sao và tại ai mà giáo dục cứ bị than là ngày càng xuống cấp?
Hà Nội, 5.12.2007

Vui buồn nghề giáo...

Đến nay, tính ra thời gian đi dạy của tôi đã hơn 15 năm. So với bạn bè cùng trang lứa thì chậm hơn những 4 năm, còn tính theo lương phạn thì chậm hơn những 9 năm. Nghĩa là tuổi đời thì lớn, nhưng so ra tuổi nghề thì còn ít hơn bạn bè! Nhưng hơn 15 năm cũng đủ có những vui buồn của nghề giáo. Có thể ai đó sẽ hỏi tôi có khi nào cảm thấy nổi nóng, có khi nào cảm thấy thất vọng với nghề , có khi nào chán nản với học sinh hay không? Bây giờ nhìn lại chặng đường đã qua, cũng đã có nhiều khuôn mặt, nhiều thế hệ học trò đã trưởng thành, cũng đủ để ghi lại những cảm nghĩ về nghề một cách bình thản hơn!
* *
*
Trước hết việc tôi được đi dạy là nhờ tấm lòng của người thầy đã dìu dắt tôi từ phổ thông: nhà giáo ưu tú Trương Tham. Khi nghe tin học trò cưng thất nghiệp đã dự định bỏ nghề, nhân gặp học trò cũ đến thăm, thầy đã nhắn tôi đến gặp. Khi ấy, tôi ngỡ mình đã xếp tấm bằng loại giỏi của mình để yên tâm cùng công việc kinh doanh gas với anh ruột thì đã được đón nhận một cơ hội đứng trên bục giảng, và tôi đã cố không phụ lòng thầy. Tôi cũng phải cảm ơn sâu sắc cô hiệu trưởng Nguyễn Thị Mùi, khi nhận hồ sơ của học trò cũ trở về trường giảng dạy đã không chút phân vân dang rộng vòng tay cưu mang và cô cũng rất ân tình, nghiêm khắc như một người mẹ. Cô dám chấp nhận cá tính và yêu cầu cao trong công việc, không buộc tôi bị ràng buộc vào những áp lực thi đua, điểm số. Chính sự tận tình ấy của các bậc thầy cũng như sự ân tình của các đồng nghiệp, đàn anh đi trước đã giúp tôi vững tin ở chính mình. Sau này, có dịp gặp gỡ một số bạn bè ở một vài địa phương khác, khi nghe kể tôi về trường dạy mà không tốn kém gì, không phải chạy chọt xin xỏ, nhiều bạn tôi tròn mắt không tin! Vì theo lời của họ, để vào một trường công lập, một trường có "lộc" thì chí ít phải có giá quy định, có nơi có chỗ thậm chí bằng trung bình không có cửa, bằng khá phải nộp 50 triệu, bằng giỏi phải nộp 80 triệu (!). Đến lượt tôi ngỡ ngàng vì nghe lần đầu tiên, chuyện ở ngay mảnh đất học, mảnh đất văn hiến! Hỡi ôi, ngày ấy nếu có chuyện như thế thì chắc chắn tôi sẽ không bao giờ cảm nhận ý nghĩa thiêng liêng của nghề giáo mà giờ đây tôi đã coi như nghiệp của mình. Hoá ra đâu đây người ta dùng tiền để mua bán đổi chác ngay trong ngành giáo dục, vậy thì làm sao mà có ai yên tâm "trồng người"? Lúc đó, học sinh tất yếu sẽ phải bị đối xử theo quan hệ tiền bạc. Mà trong nghề này, dính dáng đến tiền bạc thì khó mà toàn tâm toàn ý với nghề!

Thứ Sáu, tháng 12 04, 2009

Tản mạn thôn Vỹ

Bây giờ, mỗi khi đọc thơ Hàn Mặc Tử, bài " Ở đây thôn Vỹ Dạ" (mà sách giáo khoa lấy theo tên gọi quen thuộc hơn với mọi người là "Đây thôn Vỹ Dạ"), tôi lại nhớ câu thơ của thi sĩ Hoàng Nhuận Cầm trước tiên: "Thôn Vỹ bây giờ thành phường Vỹ..." mà tôi đã đọc được trên báo Văn nghệ những năm 90, nhiều nhà thơ từng xôn xao tiếc nuối cho sự kiện này! Đằng sau câu thơ của Hoàng Nhuận Cầm, tôi nhận ra một nỗi đau thấm thía!
May thay, khi còn là sinh viên, trước khi thôn Vỹ hoàn tất quá trình đô thị hoá với hàng loạt khách sạn, tôi đã được tắm đẫm trong không gian của một đêm trăng thôn Vỹ, đêm trăng đậm chất Hàn Mặc Tử. Xin được cảm ơn đêm cổ-tích ấy đã bắt đầu cho những rung động mới mẻ của hồn tôi, khi cảm nhận về Em, Người-Thơ của tôi. Thôn Vỹ ghi dấu cho một mối tình đâm hoa kết trái trong lòng tôi, để tôi biết có em trong đời:
Lòng cứ vọng một đêm trăng xứ Huế
Vỹ Dạ thôn, em bước nhẹ như sương...
(Thơ cũ)
Bởi tôi đã nhận thấy hồn thôn Vỹ trong đêm trăng huyền diệu ấy! Sau một cơn mưa, ánh trăng loang loáng mặt nứơc Hương Giang, loang loáng trên những tàu dừa, để tôi phát hiện ra ánh trăng-xanh đẹp đến nao lòng! Thôn Vỹ đi vào mối tình thơ của tôi, để sau này mỗi lần giảng bài cho học sinh là lại một lần được xúc động:
Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Gió theo lối gió, mây đuờng mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đâu bến sông Trăng đó
Có chở Trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
HÀN MẶC TỬ
Có lẽ từ trăng thôn Vỹ, trăng trong thơ Hàn mà tôi cứ ương bướng không chịu thừa nhận sửa lại cách gọi nhà thơ là Hàn Mạc Tử (chàng rèm lạnh) như các công trình nghiên cứu đề nghị(chẳng hạn Phạm Xuân Tuyển trong "Đi tìm chân dung Hàn Mạc Tử") mà cứ khư khư giữ lại vầng trăng khuyết để làm nên tên gọi Hàn Mặc Tử (chàng bút mực). Vì tôi nghĩ, thơ Hàn mà thiếu vầng trăng thì dường như mất mát đi cái thi vị nhiều lắm! Thôn Vỹ trong lòng tôi là thôn Trăng, sông Hương trong lòng tôi phải là sông Trăng! Và người thôn Vỹ trong thơ Hàn phải là người Trăng - "Người Trăng ăn vận toàn Trăng cả - Gò má riêng thôi lại đỏ hườm".
Ánh trăng trong bài thơ thôn Vỹ của Hàn làm cho toát lên sức sống diệu kỳ của đất cố đô, dù cho bạn thân của ông là Bích Khê cũng có câu thơ về thôn Vỹ thật hay (nhưng cũng thật buồn và thiêu thiếu một cái gì đó thật mơ hồ không cắt nghĩa được - trăng chăng?):
Vỹ Dạ thôn! Vỹ Dạ thôn!
Biếc che cần trúc không buồn mà say
(Vỹ Dạ thôn)
Cũng đâu phải ngẫu nhiên, khi tuyển chọn những bài thơ về Đất Thần Kinh, các nhà soạn sách đã đặt tên là Bài thơ thôn Vỹ - thôn Vỹ của Hàn Mặc Tử đã đi vào cõi bất tử!
Trong một ngày sương mù Hà Nội, bỗng nhiên nhớ về thôn Vỹ, nhớ ra lâu lắm rồi tôi chưa ghé lại! Mà hỡi ôi, "thôn Vỹ bây giờ thành phường Vỹ" - liệu tôi có còn tìm lại được chút gì thôn Vỹ của lòng tôi? Nhưng tôi sẽ còn mãi thôn Vỹ của thơ Hàn nói hộ:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Hà Nội, 31 tháng Giêng năm 2007
Lãng tử Trần Nam

Hành trình đến cùng Hàn Mặc Tử

Có lẽ duyên hội ngộ thật sự của tôi với Hàn Mặc Tử bắt đầu từ những câu thơ trong ngần của Hàn đã được tôi chép lại lõm bõm theo lời giảng ngẫu hứng "vượt rào" của thầy Trương Tham thời phổ thông:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Tôi ngỡ ngàng vì hoá ra trong dòng văn học "bạc nhược và suy đồi" như người ta bảo hồi ấy lại có những câu thơ hay đầy sức mê hoặc như thơ của Hàn Mặc tử. Tâm hồn trong trẻo của một học sinh yêu văn ngày ấy đã khiến tôi rất tự nhiên đi tìm những nguồn tư liệu để biết thêm về một nhà thơ đã gắn tên tuổi với Quy Nhơn của tôi. Mặc dù đã đọc được về Hàn trong "Thi nhân Việt Nam" của Hoài Thanh và Hoài Chân từ rất sớm nhưng những nhận xét từ cuốn sách ấy chưa làm thoả mãn sự háo hức của một cậu học sinh tò mò, lại càng khiến tôi muốn khám phá kỹ hơn vào "vườn thơ rộng rinh", "càng đi xa càng ớn lạnh" của Hàn Mặc Tử.
Tôi còn nhớ ngày ấy, khi cuốn "Thơ Hàn Mặc tử" (Sở VHTT Nghĩa Bình, 1988) vừa ra đời, tôi đã lật ngay những trang đầu tiên và lập tức bị chấn động rất mạnh (và sau đó nhiều lần còn bị ám ảnh) bởi lời tựa "Hàn Mặc Tử, anh là ai?" của Chế Lan Viên: "Bây giờ Hàn Mặc Tử nằm trên một điểm cao Gành Ráng đối diện với bể Đông, bể chói loà như thơ Anh và giông bão tựa đời Anh...". Có lẽ bắt đầu từ những dòng cảm xúc tuôn trào của Chế Lan Viên về Hàn Mặc Tử, tôi đã cảm nhận được sự hiện hữu ủa thơ Hàn trong từng con sóng biển Quy Nhơn, nơi tôi gắn bó từ quãng đời thơ ấu đến lúc trưởng thành dường như lung linh một chất thơ rất riêng kết tinh từ thơ Hàn:
"Ngả nghịêng đồi cao bọc trăng ngủ
Đầy mình lốm đốm những hào quang"
và: "Mây hờ không phủ đồi cao nữa
Vì cả trời xuân tắm nắng tươi..."
Tôi bắt đầu hình dung ra thế giới thơ của Hàn Mặc Tử - một thế giới sáng láng thơm tho với sự hiện diện của hai nguồn sáng tinh khiết: trăng và nắng. Tôi lại cảm thấy nguồn sinh lực dồi dào phát tiết từ tiếng thơ Hàn luôn rạo rực cảm giác Xuân.
Ngày ấy, bập bõm bình văn, tôi đã say sưa cùng cái trong ngần nắng sớm của "Mùa Xuân Chín", viết xong rồi vẫn còn nguyên vẹn cảm giác ngất ngây trong thi ảnh của Hàn:
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng Trí bâng khuâng sực nhớ làng
-Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Cảm giác ấy bao lần trở lại với tôi, không hề phai nhạt dù sau này tâm hồn chai sạn dần cùng năm tháng.
Yêu thơ Hàn, tôi cũng đã không bviết bao nhiêu lần tìm đến Quy Hoà, cố hình dung những cảnh sắc lưu lại giây phút cuối cuộc đời tài hoa ấy. Tôi cũng cố chiêm nghiệm cảm giác của Hàn khi bao lần ngồi dưới bóng trăng, nghe sóng biển mà lại vọng lên tiếng thơ Hàn như lay động trên những rặng phi lao: "Trăng bay lả tả ngả trên cành vàng". Rồi thì: "Người trăng ăn vận toàn trăng cả - Gò má riêng thôi lại đỏ hườm". Cái ánh trăng vào thơ Hàn có lúc vang động những tiếng rú, tiếng gào, có lúc lại vô cùng ma quái ấy thì vẫn là trăng của tâm hồn thánh thiện ấy thôi, vẫn là trăng của thuở : "Mới lớn lên trăng đã thẹn thò - Thơm như tình ái của ni cô"...
Đến lúc biết yêu, tôi lại càng ngấm thơ của Hàn hơn nữa. Dần dần tôi đã thẩm thấu nỗi đau của một người khát yêu, khát sống mà bị tách ra khỏi đời sống cộng đồng thật khủng khiếp như thế nào với Hàn. Tôi thích đọc những câu thơ mà nỗi đau lặn vào trong cào xé, nhưng lại biểu lộ ra bằng giọng điệu như thủ thỉ mà khiến lòng người đọc như ứa máu:
Ngoài kia xuân đã thắm duyên chưa
Trời ở trong đây chẳng có mùa
Không có niềm trăng và ý nhạc
Có nàng cung nữ nhớ thương vua
"Hỏi nhẹ nhàng thôi nhưng mà đau đớn lắm!", đó là nguyên vẹn những suy nghĩ của tôi khi được đọc những dòng thơ ấy. Và trước nỗi đau như vậy, làm sao có thể bình thêm gì nữa?
Sau này nhiều lần tham dự những buổi tưởng niệm nhà thơ, do anh em văn nghệ tự tổ chức, tôi lại được ôn lại những vần thơ của Hàn mà chiêm nghiệm thêm bao ý tứ mới mẻ, càng thêm yêu con người bị đày đọa trong nỗi thống khổ vô biên mà vẫn khát yêu khát sống ngay cả trong những vần thơ đớn đau như rứt từng mảng sự sống:
Trời hỡi nhờ ai cho khỏi đói
Gió trăng có sẵn làm sao ăn
Làm sao giết được người trong mộng
Để trả thù duyên kiếp phụ phàng
Mỗi khi đọc thơ Hàn, tôi thường để cho lòng mình lắng hết mọi bon chen tục lụy, để cho thơ Hàn lắng cõi tâm tư thật sự trong ngần. Hàn Mặc Tử lúc ấy mới thật sự là của tôi, không phải của các nhà phê bình nhiều chữ nghĩa lắm học thuyết đem Hàn ra mổ xẻ.
Đêm nay, Hàn lại đến bên tôi, trong nỗi nhớ Quy Nhơn, trong tình quê đau đáu:
TÌNH QUÊ
Trước sân anh thơ thẩn
Đăm đăm trông nhạn về
Mây chiều còn phiêu bạt
Lang thang trên đồi quê
Gió chiều quên ngừng lại
Giòng nước luôn trôi đi
Ngàn lau không tiếng nói
Lòng anh dường đê mê
Cách nhau ngàn vạn dặm
Nhớ chi đến trăng thề
Dầu ai không mong đợi
Dầu ai không lắng nghe
Tiếng buồn trong sương đục
Tiếng hờn trong lũy tre
Dưới trời thu man mác
Bàng bạc khắp sơn khê
Dầu ai trên bờ liễu
Dầu ai dưới cành lê...
Với ngày xuân hờ hững
Cố quên tình phu thê
Trong khi nhìn mây nước
Lòng xuân cũng não nề...
HÀ NỘI, 2h15p ngày 24 tháng 3 năm 2007
Trần Hà Nam

Thứ Tư, tháng 11 25, 2009

Một lần chợt nghe...

"Một lần chợt nghe quê quán tôi xưa, giọng người gọi tôi nghe tiếng rất nhu mì. Lòng chợt bình yên mà sao buồn thế, giật mình nhìn ra ồ phố xa lạ..."
Lâu nay sống như một gã ẩn cư: đi dạy, về nhà lên mạng, tranh cãi vui buồn gì cũng trên mạng. Thỉnh thoảng ra phố, chợt thấy mình như không bắt nhịp với cuộc sống xung quanh.
Bon chen mà chi! Dạy thêm cũng có tiền đấy, nhưng phải có không khí, có sự hào hứng, còn tìm cách để học trò đi học thêm thì đó không phải là phong cách của mình. Viết lách giờ này cũng chán, khi chứng kiến những kẻ mượn danh văn chương mà sống với nhau chẳng ra gì! Thơ hay chưa chắc con người đã hay, nhất là khi dính vào bả quyền lực danh vọng.
Muốn làm một người bình thường, không say sưa, không bốc đồng như thuở trước khi tròn bốn chục! Muốn ngồi lặng lẽ, thưởng thức ly cà phê mà ngẫm chuyện đời. Mong có những học trò thật đam mê văn chương để mình dạy khỏi bị cảm giác nhàm chán!...
Hóa ra mình còn nhiều mong ước quá!!!
Tự cười!

Thứ Bảy, tháng 10 24, 2009

Văn ơi là Văn!

Năm nay trở lại chiến trường học sinh giỏi sau mấy năm trời, từ khoá chuyên Văn cuối cùng trước kia là khoá 5, giờ là khoá 11!!! Cảm nhận rất rõ một điều học sinh bây giờ có lối tư duy và hiểu biết khác hẳn thế hệ trước. Tai hại thay, những tư duy kiểu ấy và hiểu biết kiểu ấy làm cho môn Văn ngày càng khô héo đi, nhiệt tình và độ kiên nhẫn của mình cũng giảm sút đáng kể.
Mà còn cả chương trình, SGK nữa! Một mớ nát vụn những kiến thức tập hợp tản mạn gây khó cho giáo viên. Với mình thì ít nhiều còn chút kinh nghiệm và khả năng ứng phó, còn với trò thì nhiều bài học giống như cực hình. Cách học của trò thấy rõ hậu quả ở lớp 12! Sáng nay nổi giận khi kiểm tra vở ghi của học trò 12: xác suất 12 học trò thì có tới 4 học trò không có vở Văn, 6 học sinh ghi bài để trống lỗ chỗ hoặc chỉ ghi ý của thầy sơ sài (điều chưa từng xảy ra với quy mô lớn ở học trò các lứa trước), chỉ có 1 cuốn ghi tử tế, một cuốn cố gắng ghi ý và lời giảng. Mà mình dạy đâu có đuổi theo thời gian để vội vàng! Tự dưng cảm thấy tốn hơi phí sức! Lại phải phá lệ dành thời gian ...la học trò. Không thể nghĩ là học trò lớp chuyên mà lại thế! Cứ nghĩ là học sinh chuyên như các năm trước! Còn tiếp tục tìm hiểu nguyên nhân. Không hiểu rằng mình có đủ kiên nhẫn và nhiệt tình không, nếu học trò tiếp tục như thế? Chán ngán!

Thứ Sáu, tháng 10 23, 2009

TIỀN

Gần tuổi bốn mươi tôi biết mình hời hợt

Sống rất lãng du làm khổ gia đình

Tiền, tiền, tiền với đời là điệp khúc

Còn tôi không tiền vẫn cứ coi khinh



Ôi những đồng tiền giấy vô thanh

Không thể thành thơ

Không thăng hoa thành nhạc

Nhưng không thể làm ve sầu suốt ngày ca hát

Không thể vung tiền trong những cuộc vui

***

Gì thì gì tôi cũng sắp bốn mươi

Còn gì đau hơn bất tài vô tướng

Cứ việc mình mình

Lạc bước trong thế giới ảo với bao tưởng tượng

Mở mắt nhìn hoá đơn méo hết mặt mày



Không lẽ kiếm tiền chỉ nhờ ăn may

Hay tự biến mình thành gã ba hoa phét lác

Thất thểu về nhà vợ con xơ xác

Tiền đâu, tiền đâu, câu hỏi lòng vòng

***

Tuổi gần bốn mươi vẫn hoàn tay không

Tích cốc phòng cơ không lo không nghĩ

Tự giận mình: ta, thằng ích kỷ

Hay hớm gì đâu ca khúc thanh bần?



Dẫu với đời, ta không vướng nợ nần

Ta nợ gia đình sức dài vai rộng

Bỗng thấy vô duyên câu "ăn để sống"

Không kiếm ra tiền, mai mốt lấy gì ăn?

3.2008

Thơ cũ

TRẦN HÀ NAM

MÙA XUÂN

Khi thấy sắc mai chạm nơi đầu ngõ
tôi biết mùa xuân
Xuân muộn hay xuân sớm
Sắc hoa không cho người già (*)

Tôi biết mùa xuân trong mắt con thơ
niềm háo hức nhận lì xì năm mới
Tôi biết mùa xuân qua rồi vội vã
Cánh mai vàng tơi tả
nỗi buồn trong mắt mẹ mênh mang
Có phải "mùa xuân trong đôi mắt em" (**)
Xuân này nữa rồi bao mùa xuân nữa?
Có bao nhiêu lòng xuân khép cửa
Bao dự cảm mong manh
Thì xuân đất trời cứ mãi xanh
Cho lòng ta nỗi buồn thôi đọng lại
Nghe khúc nhạc xuân êm ái
Ta tự ru mình
Mùa Xuân...

T.H.N
....................................
(*) Thơ Lưu Vũ Tích

(**) Bài hát "Mùa xuân trong đôi mắt em"





ĐÔI KHI

Không có chocolate cho ngày tình nhân
Bởi vị ngọt ngào đôi khi nhiều điêu trá
Đôi khi hoa hồng lại mang sắc vàng nhạt nhẽo
Vì ta hờ hững những ân tình.

Có lúc tình yêu
tưởng mong manh sương khói
Tan tác cánh hoa
Đôi khi ở gần nhau mà lòng lại cách xa
Chợt nhận ra trái tim mình bạc bẽo!

Khi ta còn yêu, chỉ cần em hiểu
Cần chi chocolate, cần chi phải hoa hồng
Sự lãng mạn ngọt ngào đâu thể thiếu
Khi tình yêu kết duyên nợ vợ chồng!

Đôi khi một nụ hôn đủ thay lời ta nói
Một nụ cười làm ấm mãi lòng nhau
Hạnh phúc đôi khi chỉ cần mắt nhìn trong mắt
Tay trong tay mà sống đến bạc đầu!

2.2008
T.H.N

CHO MỘT MÙA THU

Em là một áng mây thu

Hồn ta cơn gió phiêu du mấy mùa

Trời làm chi một cơn mưa

Mây thành nước mắt, gió lùa lạnh căm



Ta về tròn mộng trăm năm

Nghe hồn trống vắng, nghe thân hao gầy

Trời cao mây trắng vẫn bay

Cánh chim mỏi tháng năm dài ngủ yên



Dẫu mai đời lắm ưu phiền

Còn em trọn vẹn một miền bâng khuâng

Người xưa đành gọi cố nhân

Để cho mây trắng phân vân mấy mùa.

1994



MỘT THOÁNG HƯ VÔ

Hư vô đi qua một thoáng trong đời và để lại rất nhiều trống vắng. em đã đến giữa đời tôi lẳng lặng và ra đi như sợi gió mong manh.

Thưa em câu thơ tôi khép lại giữa cõi lòng chập chờn ảo ảnh chiêm bao. Không vầng trăng khuyết, chẳng đĩa dầu hao nhưng vẫn mông lung là nỗi nhớ.

Trong một thoáng hư vô tôi vẫn còn nhận rõ thời gian chỉ đem cho con người những dấu vết của tàn phai. Có đôi khi nghe nuối tiếc thở dài nhưng tự nhủ đời mình may mắn lắm.

Em đã viết những lời bão tố, rồi gửi cho tôi con sóng nhỏ bình yên. Nên tôi suốt đời chẳng thể lãng quên, dù tất cả qua đi như bóng khói…

Trót sinh kiếp đa tình không chối bỏ. Thôi em đi ta tiễn khúc tạ từ. Đã xa xăm lắm một cơn mưa, trời ở đây nóng bỏng từng giọt nắng…

1994

Thu bất chợt

Không mưa
Không nắng
Và tôi không biết mùa Thu đang lặng lẽ qua!
Có cơn gió heo may làm rùng mình
Khi nghĩ về những buổi chiều dằng dặc
Nhớ thương ôi
tít tắp
xa mù...
+++
Khi trong đầu trống rỗng
lặng câm
mùa thu với bao vẻ đẹp
bỗng trôi qua âm thầm
Nỗi buồn ở lại
thắc thỏm
giật mình
Thu!

Thứ Năm, tháng 10 22, 2009

Bình thơ: Thời gian

Còn đâu tráng lệ những thời xanh
Mùi vị thơm tho một ái tình
Đố kiếm cho ra trong lớp bụi
Ít nhiều hơi hám của kiên trinh

Đừng tưởng ngàn xưa còn phảng phất
Nơi làn gió nhẹ lúc ban đêm
Hồn xưa tự ấy không về nữa
Ở cõi hư vô dấu đã chìm

Chỉ có trăng sao là bất diệt
Cái gì khác nữa thảy đi qua
Tây Thi nàng hỡi bao nhiêu tuổi
Vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn nà?

Tôi lạy muôn vì tinh tú nhé
Xin đừng luân chuyển để thời gian
Chậm đi cho kẻ tôi yêu dấu
Vẫn giữ màu tươi một mỹ nhân.
H.M.T
(Đau thương - phần Hương thơm)
Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) là một trong những hiện tượng đặc sắc của phong trào Thơ Mới Việt Nam (1932 – 1945), đặc biệt ở tập thơ Đau thương (tức Thơ Điên) đã có một sự kết hợp độc đáo của một tâm hồn thống khổ vì bệnh tật, tình duyên, bị tách biệt khỏi cuộc đời với một khả năng trác tuyệt của một cây bút sáng tạo cách tân để tạo thành những bài thơ cho đến nay vẫn chưa thể giải mã được cặn kẽ. Đứng từ góc độ thi pháp học, người viết xin nêu một vài suy nghĩ nhỏ về thời gian nghệ thuật trong một tác phẩm cụ thể: bài thơ Thời gian , nằm trong phần Hương thơm của tập thơ Đau thương.
Trước khi sáng tác thơ mới, Hàn Mặc Tử đã nổi tiếng là một người làm thơ Đường luật điêu luyện. Bởi thế, chắc chắn nhà thơ không hề xa lạ với những quan niệm thời gian đã thành khuôn mẫu, chuẩn mực truyền thống của luật thơ có ảnh hưởng đến cả hàng nghìn năm văn học phương Đông này. Thời gian trong thơ Đường với những đặc trưng: thời gian bất biến gắn với không gian vũ trụ, những biểu tượng thời gian mang ý nghĩa ước lệ tượng trưng. Bởi thế, muốn thấy rõ dấu ấn thay đổi quan niệm nghệ thuật từ thơ cũ sang thơ mới, không thể không phân tích sự thay đổi quan niệm về thời gian trong thơ của Hàn Mặc Tử, ý thức thời gian gắn liền với cảm quan thẩm mỹ của thơ mới, với cái tôi cá nhân cá thể ý thức được sự hiện hữu cũng như muốn bày tỏ khát vọng chiếm lĩnh vẻ đẹp, bộc lộ chính mình. Lấy nhan đề bài thơ là Thời gian , phải chăng nhà thơ muốn phát biểu trực tiếp quan niệm của chủ thể trữ tình, quan niệm của chủ nghĩa lãng mạn muốn phá bỏ những thành trì của thơ cổ điển?
Trước hết có thể nhận ra nhà thơ muốn hợp nhất thời gian với tình yêu và tuổi trẻ, trong sự đối lập với thời gian đã qua với thời gian hiện tại. Đó không phải là thời gian vô hình mà là thời gian đã được vật chất hoá, có thể nhận biết qua các dấu hiệu ngôn ngữ biểu trưng và sự kết hợp ngôn từ độc đáo: thời xanh, mùi vị thơm tho, ái tình. Thời gian ấy không phải của kiếp người, đời người gắn với cảm nhận nhân thế, thời thế mà cụ thể hoá trong thời gian cá thể: một ái tình! Xuất hiện ngay từ khổ thơ đầu của bài thơ là một cảm thức tiếc nuối thời gian một đi không trở lại trong cấu trúc câu hỏi “còn đâu…?” tạo nên cảm giác hụut hẫng, mất mát, không giống với sự trôi chảy thông thường mà đồng nghĩa với mất mát tuổi trẻ và tình yêu. Thực ra cảm thức về sự mất mát này từng được nhắc đến trong thơ cổ điển với tần số không ít, cả thơ Trung Hoa lẫn Việt Nam nhưng các nhà thơ xưa thường cảm nhận sự bất biến của thời gian trong quan niệm thời gian tuần hoàn của vũ trụ đối lập với thời gian đời người mất đi vĩnh viễn. Hàn Mặc Tử đã tuyên chiến với quan niệm ấy bằng thái độ dứt khoát, thách đố với những chữ đố, đừng tưởng hướng vào những người ôm ảo tưởng về thời gian vũ trụ tuần hoàn.
Bằng thái độ phủ nhận, nhà thơ đã phát biểu rõ quan niệm của mình trong khổ thơ thứ hai:
Đừng tưởng ngàn xưa còn phảng phất
Nơi làn gió nhẹ lúc ban đêm
Hồn xưa tự ấy không về nữa
Ở cõi hư vô dấu đã chìm
Theo cách nói này, cũng có nghĩa là không có “ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay” (dịch thơ Thôi Hiệu đời Đường), biểu trưng của thời gian vũ trụ bất biến, tuần hoàn. Điều đó cũng có nghĩa là không có sự hiện hữu của quá khứ trong thời gian thực tại, trong vẻ đẹp hiện thực. Tác giả định danh và liên tưởng các giá trị thời gian bằng chuỗi từ ngàn xưa - hồn xưa – cõi hư vô, nhằm khẳng định một giá trị âm. Những cái “xưa” ấy chỉ là “hư vô”, tập hợp rỗng. Cùng với hồn xưa không về nữa từ ngàn xưa - thời điểm được xác định là tự ấy đồng thời làm hiện lên một không gian trống vắng, hoang lạnh, điêu tàn, càng làm tăng ấn tượng đau thương. Vậy thì hương thơm có tồn tại trong thời gian này hay không? Cái gì còn lại khi ngàn xưa, hồn xưa đã biệt mù tăm tích?
Chỉ có trăng sao là bất diệt
Cái gì khác nữa thảy đi qua
Tây Thi nàng hỡi bao nhiêu tuổi
Vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn nà?
Nếu như ở hai khổ đầu là cảm nhận về thời gian thực thì đến khổ thứ ba này Hàn Mặc Tử đã “ảo hoá” thời gian. Có một sự kết hợp rất độc đáo quan niệm của thơ lãng mạn, thơ tượng trưng với các biểu tượng của thơ ca cổ điển Trung Hoa. Nếu lớp bụi, thời gian quá khứ đánh dấu sự tan rữa của giá trị vĩnh hằng – kiên trinh như nhà thơ đã tuyên bố thì phải chăng ở khổ này ông tự mâu thuẫn với chính mình. Khác với các nhà thơ cổ điển nhận ra ở trăng sao sự đồng nhất hay tuần hoàn của thời gian vũ trụ thì Hàn Mặc Tử chỉ thừa nhận ý nghĩa biểu tượng ánh sáng – cái đẹp tồn tại vĩnh hằng mà thôi. Ánh sáng bất diệt ấy vượt qua quy luật của thời gian, thể hiện khát khao hướng về cái đẹp tuyệt đối của thi sĩ lãng mạn Hàn Mặc Tử. Ở ý thơ này, Hàn Mặc Tử cũng đối lập với một nhà thơ mới khác là Xuân Diệu (Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn - Giục giã). Hàn Mặc Tử hướng về Cái Đẹp tuyệt đối, tạo ra một địa chỉ lưu giữ vĩnh viễn vẻ đẹp thời gian trong con người hiện tại. Ngôn ngữ đối thoại như người đồng thời với Tây Thi - người đẹp thời Chiến quốc đã xác lập mối quan hệ thời gian xưa – nay một cách độc đáo, tạo thành dòng thời gian tâm tưởng, thời gian khát vọng vượt qua hư vô một cách mãnh liệt. Qua đó, nhà thơ bộc lộ cảm giác mê đắm ngất say trước vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn nà.
Khát vọng hướng về cái đẹp đã khiến nhà thơ rơi vào trạng thái hoang mang, khẩn cầu trước quy luật của tạo hoá. Đó cũng là mâu thuẫn giữa khát vọng và hiện thực của các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới. Dù cách diễn đạt khác nhau nhưng thường trực ý thức về thời gian gắn với cái đẹp khiến các nhà thơ mới gặp nhau trong quan niệm. Cũng giống như Xuân Diệu muốn “tắt nắng”, “buộc gió” cho “màu đừng nhạt mất ”, “hương đừng bay đi” thì Hàn Mặc Tử đã khấn nguyện da diết:
Tôi lạy muôn vì tinh tú nhé
Xin đừng luân chuyển để thời gian
Chậm đi cho kẻ tôi yêu dấu
Vẫn giữ màu tươi một mỹ nhân
Rõ ràng một mặt nhà thơ nắm rõ quy luật vận động của thời gian, mặt khác nhà thơ lại muốn cưỡng quy luật biến đổi ấy. Đó là mâu thuẫn bên trong của tâm hồn yêu cái đẹp, xung đột giữa hiện thực và khát vọng không thể hoá giải. Nhưng đó cũng là cách nhà thơ khẳng định lòng mình, trân trọng nâng niu những khoảnh khắc thời gian hằng sống, bộc lộ cái tôi cá nhân mãnh liệt nhất. Trái tim vẫn giữ màu tươi của tình yêu, của cái đẹp đến muôn đời. Bài thơ giúp ta hiểu hơn về quan niệm thời gian, quan niệm sống của Hàn Mặc Tử, đồng thời hiểu thêm giá trị của Cái Đẹp, của Tình Yêu qua những vần thơ chan chứa tình yêu sự sống và con người của nhà thơ.

Hà Nội, ngày 16 tháng 3 năm 2007
TRẦN HÀ NAM